Trang ChínhTrang Chính  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
 

Về Đầu Trang Những điều cần lưu ý khi tham gia thảo luận bài viết
1.Không spam. Xem rõ nội quy chung tại Đây
2.Thể hiện văn hóa bằng cách bấm thanks với các bài viết bạn thích.




Về Đầu Trang
có những người chỉ đứng sau, nhìn bạn, quan tâm bạn, giúp đỡ đến bạn nhìn bạn thành công, chia sẻ lúc bạn vui cũng như bạn buồn...Nhưng nhiều khi bạn không nhìn thấy người đó, điều đó khiến họ buồn, một thiên thần buồn (Sad_angel), nếu bạn đọc được điều này thì đừng bao giờ để người đó buồn nữa nhé :)
avatar
Xem lý lịch thành viên http://cafefriend.0forum.biz
Buồn Vì Yêu
http://illiweb.com/fa/pbucket.gif

Bài gửi : 132
Điểm : 315
Thank : 0
Join date : 29/08/2011
Age : 21
Đến từ : Quảng Ngãi
Humor : Buồn Vì Yêu
Giới tính : Nam
Bài gửi : 132
Điểm : 315
Thank : 0
Join date : 29/08/2011
Age : 21
Đến từ : Quảng Ngãi
Humor : Buồn Vì Yêu
Giới tính : Nam
#91Bài gửiTiêu đề: Lịch Sử Cafe'   Sat Sep 03, 2011 9:44 am
Câu chuyện về cà phê thì
rất nhiều, thực hay hư cũng ít ai kiểm chứng. Hoặc giả nhiều khi người
ta phóng đại những chuyện nhỏ thành chuyện lớn cho „mùi“ cà phê thêm đậm
đà, chẳng hạn như „cà phê dãi chồn“ mà dân ghiền người Việt thường kể
cho nhau nghe. Câu chuyện lãng mạn hơn cả có lẽ là truyện một anh chàng
chăn dê tên là Kaldi, người xứ Abyssinia. Một hôm anh ta ngồi trên một
tảng đá cạnh một sườn núi bỗng nhận ra đàn dê vốn dĩ ngoan ngoãn hiền
lành của mình đột nhiên có vẻ sinh động lạ thường. Sau khi đến gần quan
sát kỹ hơn, Kaldi thấy những con dê đã đớp những trái màu đo đỏ ở một
cái cây gần đó. Anh ta cũng liều lĩnh bứt một vài trái ăn thử và cũng
thấy mình hăng hái hẳn lên, tưởng như tràn đầy sinh lực.



Người chăn dê nghĩ rằng mình đã gặp một phép lạ, vội vàng chạy về một tu
viện gần đó báo cho vị quản nhiệm. Nhà tu kia sợ rằng đây chính là một
thứ trái cấm của quỉ dữ, lập tức vứt những trái cây chín đỏ kia vào lò
lửa. Thế nhưng khi những hạt kia bị đốt cháy tỏa ra một mùi thơm lừng,
người tu sĩ mới tin rằng đây chính là một món quà của Thượng Ðế nên vội
vàng khều ra và gọi những tăng lữ khác đến tiếp tay. Những hạt rang kia
được pha trong nước để mọi người cùng được hưởng thiên ân.



Cà phê vốn dĩ mọc hoang trong vùng Abyssinia và Arabia. Trước thế kỷ thứ
10th, thổ dân thường hái ăn, dùng như một loại thuốc kích thích. Trái
cà phê chín được giã ra trộn với mỡ súc vật nặn thành từng cục tròn để
dùng làm thực phẩm khi đi đường xa. Về sau cà phê được dùng làm thức
uống nhưng cũng khác phương cách ngày nay. Thời đó người ta chỉ ngâm
nước những trái cà phê rồi uống, mãi tới thời trung cổ người Ả Rập mới
biết tán ra bỏ vào nước sôi.



Thức uống đó chẳng mấy chốc trở nên nổi tiếng và người Ả Rập rất tự hào
về phát minh này và giữ bí mật để bảo tồn độc quyền một loại sản phẩm.
Những khách hành hương được thưởng thức nước cà phê đã lén lút đem hạt
giống về trồng nên chẳng bao lâu khắp khu vực Trung Ðông đều có trồng,
và truyền đi mỗi lúc một xa hơn nữa.



Vào thế kỷ thứ 13, cà phê đã thành một thức uống truyền thống của người Ả
Rập. Những quán cà phê „ với tên là qahveh khaneh „ hiện diện khắp nơi,
từ thôn quê tới thành thị. Những quán đó trở thành những nơi sinh hoạt,
với đủ loại giải trí từ âm nhạc đến cờ bạc và các triết gia, chính trị
gia, thương gia thường lui tới để tụ tập bàn thảo sinh hoạt xã hội và
công việc làm ăn.



Thế nhưng khung cảnh nhộn nhịp của các „hộp đêm“ cũng làm cho giới cầm
quyền e ngại. Sợ rằng những tay đối lập có thể tụ họp bàn chuyện chống
đối nên nhiều lần triều đình đã ra lệnh cấm và đóng cửa các coffee
houses này nhưng không thành công. Không những thế, việc cấm đoán lại
còn khiến cho việc uống cà phê trở thành thói quen của thường dân vì từ
nay một số đông sợ rắc rối nên uống ở nhà, kiểu cách uống cũng được nghi
thức hóa.



Những thương gia đi tới những quốc gia Ả Rập và Thổ Nhĩ Kỳ nay đem cái
thói phong lưu này về bản xứ. Âu châu nay cũng uống cà phê. Kiện hàng
mang cà phê được ghi nhận lần đầu tại Venice vào năm 1615 do Thổ Nhĩ Kỳ
gửi đến. Khi cà phê lan tới Rome, một lần nữa các nhà tu lại kết án đây
là một thức uống của ma quỉ (the drink of the devil), và việc tranh chấp
gay go đến nỗi Giáo Hoàng Clement VIII phải yêu cầu đem đến một gói cà
phê mẫu để chính ông dùng thử. Vị chủ chiên kia chỉ mới uống một lần đã
„chịu“ ngay và thấy rằng thật ngu xuẩn xiết bao nếu cấm giáo đồ Thiên
Chúa không cho họ uống cà phê.



Ðược Giáo Hoàng chấp thuận, số người uống cà phê lập tức gia tăng và
chẳng bao lâu quán cà phê đầu tiên ở Âu Châu được khai trương tại Anh
Quốc năm 1637 do một doanh gia tên là Jacob (người Do Thái, gốc Thổ Nhĩ
Kỳ) mở tại Oxford. Kế đó là một quán cà phê khác ở London và rồi nhiều
thành phố khác. Người ta bảo rằng những quán đó rất dễ nhận vì dù còn ở
xa xa đã ngửi thấy mùi cà phê thơm nức, tới gần hơn thì bao giờ cũng có
một bảng hiệu với một ly cà phê nghi ngút hay hình đầu một vị tiểu vương
xứ Trung Ðông.



Những quán mở gần trường đại học bao giờ cũng đông nghẹt giáo sư và sinh
viên nên được gọi bằng cái mỹ danh „đại học một xu“ (penny
universities) vì giá của một ly cà phê thuở đó chỉ có một penny và người
ta chỉ tốn bấy nhiêu cũng thu thập được rất nhiều kiến thức qua những
buổi „thuốc lá dư, cà phê hậu“, có khi còn nhiều hơn là miệt mài đọc
sách. Chẳng biết những lời tuyên bố đó có đúng hay không nhưng truyền
thống đó không phải chỉ nước Anh mà lan qua nhiều quốc gia khác, cho chí
Việt Nam , quán cà phê vẫn là nơi mà giới sinh viên hay đến để suy tư
qua khói thuốc nhiều hơn cả.



Ðến cuối thế kỷ 17, hầu hết cà phê trên thế giới đều nhập cảng từ các
nước Ả Rập. Cũng như ngày nay người ta kiểm soát dầu hỏa, vào thuở đó
các nước Trung Ðông rất chặt chẽ trong việc sản xuất và xuất cảng cà
phê, và chỉ được mang hạt ra khỏi xứ sau khi đã rang chín ngõ hầu không
ai có thể gây giống để đem trồng nơi xứ khác. Người ngoại quốc cũng bị
cấm không cho bén mảng đến những đồn điền cà phê. Thế nhưng dù có nghiêm
nhặt đến đâu thì cũng có người vượt qua được.



Sau nhiều lần thất bại, người Hòa Lan là dân tộc đầu tiên lấy giống được
loại cây này đem về trồng thử trên đảo Java (khi đó là thuộc địa của
họ). Thế là giống cây quí đã truyền sang Âu Châu mặc dù vẫn chỉ có thể
trồng trong nhà kiếng.



Năm 1723, một sĩ quan hải quân Pháp trẻ tuổi tên là de Clieu, khi về
nghỉ phép tại Paris, đã quyết định đem cây giống này về xứ Martinique là
nơi anh ta đang trú đóng. Cây giống được mang về theo chiếc tàu xuôi
nam để quay về nhiệm sở. Chuyến đi đó nhiều gian nan, từ việc một gián
điệp Hòa Lan toan đổ một loại thuốc độc vào cây non, cho đến việc hải
tặc chặn cướp con tàu rồi khi tới gần điểm đến, chiếc thuyền lại gặp bão
suýt bị chìm.



Bĩ cực thái lai, sau cùng de Clieu cũng thành công trong việc mang được
cây cà phê trồng một nơi kín đáo, cắt ba thủy thủ canh gác ngày đêm. Cho
hay trời cũng chiều người nên chẳng bao lâu cây đơm bông kết trái và
chỉ hơn 50 năm sau tính ra đã có đến 18 triệu cây cà phê trồng trên hòn
đảo này. Ngành buôn cà phê nay trở thành một cạnh tranh gay gắt giữa Hòa
Lan và Pháp và chính việc tranh chấp giữa hai nước đã đưa đến một biến
cố „ngư ông đắc lợi“. Trong khi hai nước có những bất đồng không thể
giải quyết, họ đã nhờ chính quyền Brazil đứng ra dàn xếp.



Trong hội nghị để phân biện giữa hai bên, Brazil đã gửi một sĩ quan trẻ
tuổi tên là Palheta đến làm đặc sứ. Palheta không những điển trai lại
còn lanh lợi, khéo nịnh đầm đúng như truyền thống của một nhà quí tộc,
chỉ trong ít ngày đã „tán“ dính ngay bà vợ của viên Thống sứ (Governor)
đảo Guiana thuộc Pháp và bí mật yêu cầu người tình lấy cho mình ít hạt
giống „làm kỷ niệm“. Trong buổi dạ tiệc tiễn đưa vị sứ thần, bà vợ viên
Thống sứ đã tặng cho Palheta một bó hoa theo đúng phép lịch sự của Pháp,
kèm theo một ám hiệu kín đáo. Nằm giữa bó hoa là những hạt cà phê tươi
mà người Brazil đang thèm thuồng. Và đây là khởi đầu cho giống cà phê
trồng tại Brazil, biến các quốc gia Trung, Nam Mỹ thành những đế quốc cà
phê lớn vào bậc nhất thế giới.



Cà phê do người Hòa Lan truyền đến Bắc Mỹ vào năm 1660 ở vùng New
Amsterdam. Bốn năm sau, người Anh chiếm vùng này và đặt tên là New York.
Vào lúc đó, cà phê đã thành một thức uống quen thuộc thay bia vào bữa
ăn sáng. Quán cà phê đầu tiên cũng theo dạng thức của Luân Ðôn, tương tự
như một quán trọ, có phòng cho thuê, cung cấp bữa ăn, có bán rượu,
chocolate và cả cà phê. Quán nào cũng có một phòng ăn chung nơi đó nhiều
hoạt động công cộng được thực hiện, dần dần trở thành nơi tụ tập bàn
chuyện làm ăn.



Thoạt tiên, cà phê chỉ dành cho giới thượng lưu trong khi trà phổ thông
hơn, gần như khắp mọi tầng lớp. Thế nhưng đến năm 1773, khi Anh hoàng
George đánh thuế trà và người dân Mỹ nổi lên chống lại thì tình hình
thay đổi. Người Mỹ giả dạng làm dân da đỏ tấn công những tàu chở trà đem
hàng hóa đổ xuống biển. Biến cố lịch sử dưới tên Boston Tea Party đã
làm cho người Mỹ nghiêng qua uống cà phê và chẳng bao lâu thức uống này
biến thành một loại quốc ẩm.



Về Đầu Trang Go down

Lịch Sử Cafe'

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang
Trang 1 trong tổng số 1 trang
Free forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | Free blog